’Từ Bắc Bộ đến vịnh Persian’

Một lính Mỹ bên thi thể phóng viên chiến trường chết tại Chu Lai năm 1965 vì trúng mìn.
Từ những ngày đầu năm 1963, khi một viên chỉ huy Mỹ tại Sài Gòn trừng phạt một phóng viên Mỹ vì đã không “đứng cùng phe”, mối quan hệ giữa các quan chức điều khiển cỗ máy chiến tranh Việt Nam và các phóng viên đưa tin về cuộc chiến này trở nên rất căng thẳng.
Trong những ngày đó, báo chí không đặc biệt chỉ trích việc Mỹ đưa quân đến một đất nước nhỏ bé ở Đông Nam Á nhưng họ bắt đầu nghi ngờ phương pháp và những gì mà các nhà lãnh đạo Mỹ cho là đúng.
Những lời quả quyết về sự “tiến triển” trên chiến trường hoá ra là giả dối. Từ “đếm người” trở thành một phép ẩn dụ nhằm ngụ ý những tuyên bố thắng lợi được phóng đại.
“Không đáng tin cậy” vẫn là một điều bất di bất dịch của chiến tranh Việt Nam. Nó mang thêm ý nghĩa mới trong chiến dịch Mậu Thân năm 1968, trong các cuộc đưa quân sang Campuchia và Lào sau đó cho đến tận năm 1975 khi xe tăng của miền bắc Việt Nam húc đổ cánh cổng dinh tổng thống của miền nam cộng hoà và trực thăng nhấc những người tản cư cuối cùng khỏi nóc nhà sứ quán Mỹ.
Vỡ mộng trước tổn thất đầu tiên trong chiến tranh, tan nát vì mất nhuệ khí và một loạt các vấn đề khác, các nhà quân sự Mỹ tìm kiếm lý do. Nhiều người trong số họ cáo buộc báo chí đã làm suy yếu động cơ khi nhấn mạnh mặt tiêu cực và thậm chí cổ vũ chiến thắng của cộng sản.
Cho dù báo chí mắc sai lầm và đã phóng đại, những lời cáo buộc như thế về cơ bản là vô căn cứ. Cái được gọi là “cuộc chiến trong phòng khách” của đài truyền hình đã thất bại bởi những chính sách không phù hợp và sự bất tài của chính quyền Sài Gòn, dù đã được Mỹ hậu thuẫn.
Về phương diện lịch sử, quân đội Mỹ đã tuân thủ chính sách công khai thông tin, nghiêng theo hướng công khai hoá hơn là giữ kín thông tin nhưng chủ trương đó đôi khi bị thay đổi để phù hợp với các cuộc xung đột cụ thể. Trong Thế Chiến II, các nhà lãnh đạo phe đồng minh yêu cầu kiểm duyệt nghiêm ngặt vì lý do an toàn quân sự.
Một số quan chức cấp cao, trong đó có tổng thống Mỹ Lyndon Johnson, đã chủ trương kiểm duyệt báo chí tại Việt Nam. Ý tưởng này được nghiên cứu nhiều lần – ít nhất là 3 lần trong năm 1965 – và lần nào cũng bị phản đối vì tính không thực tế, thậm chí còn bị cho là phản tác dụng. Mặc dù tức giận vì thông tin bị phơi bày, các quan chức thừa nhận rằng không có cách nào để kiểm soát các hãng thông tấn quốc tế với hàng trăm nhân viên ở hàng chục quốc gia.
Tuy nhiên, an ninh tác chiến cần được bảo vệ càng kỹ càng tốt. Các sĩ quan Mỹ và miền nam Việt Nam đã cung cấp thông tin về kế hoạch tác chiến cho báo chí nhưng những tin tức đó chỉ được đăng tải sau khi phát súng đầu tiên được bắn đi. Những người vi phạm nguyên tắc đó có nguy cơ bị tước mất giấy phép hoạt động báo chí. Một số phóng viên đã vượt rào nhưng những trường hợp như thế thường hiếm và lỗi nhỏ. Những nhà báo có tinh thần trách nhiệm nhận thức rõ rằng an ninh là vấn đề đáng quan tâm và không nên vi phạm nguyên tắc để lấy một cái tít rẻ tiền.
Thực tế, Hà Nội có gián điệp và những người ủng hộ tại các vị trí chủ chốt trong chính quyền miền Nam Việt Nam, gồm cả trong quân đội và các hãng thông tấn. Sự thật đó đã được làm rõ sau khi Sài Gòn sụp đổ. Khi quân đội miền Nam Việt Nam tấn công Lào năm 1971, phía bên kia đã biết trước toàn bộ kế hoạch và cụ thể cả những đỉnh núi nào sẽ được đặt căn cứ pháo kích và bãi đáp trực thăng. Thông tin đó được lấy từ các văn kiện của miền Nam Việt Nam chứ không phải qua báo chí.
“Những chuyện ngớ ngẩn lúc 5h”
Nền tảng của việc đưa tin ở Việt Nam là “những chuyện ngớ ngẩn lúc 5h” – các buổi họp báo mà tại đó các quan chức quân sự cung cấp thông tin cho báo chí cũng như những thống kê về tình hình chiến trường và hoạt động trên không. Những buổi họp báo đó thường bị nhạo báng và một số lời chỉ trích là có cơ sở. Tuy nhiên, một bộ phận trong số những người phàn nàn to mồm nhất trong giới báo chí lại là những người hiếm khi thậm chí không bao giờ đi vào chiến trường.
Những phóng viên giỏi và các hãng thông tấn lớn đã nhận ra giá trị của những thông tin và tường thuật mà các quan chức đưa ra khi so sánh với những gì các phóng viên chiến trường và một số nguồn khác cung cấp.
Cho dù việc việc đăng tải những thông tin chính thức là rất quan trọng, không có gì thay thế được cho các bản tin tường thuật từ chiến trường, và các phóng viên và những phóng viên ảnh luôn phải có mặt tại chiến tuyến. Chúng tôi đã lái xe trên các con đường cho tới tận khi cảm thấy không nên đi xa hơn nữa. Chúng tôi lê bước và toát mồ hôi cùng các binh sĩ bộ binh, lính thuỷ đánh bộ, xem các cuộc không kích xuống khu vực đổ bộ, ẩn nấp sau những con hào trên các cánh đồng lúa trong khi đạn bay trên đầu. Chúng tôi đã đợi nhiều giờ liền tại những bãi đáp trực thăng bị bỏ không, nhìn thấy những chiếc B-52 bắn phá như những bông hoa màu nâu khổng lồ, phỏng vấn các vị tướng, tá, hạ sĩ và những cá nhân tại moi trường sống tự nhiên của họ.  
Các sĩ quan và binh sĩ trên chiến trường chào đón các phóng viên; họ muốn những người ở nhà biết những gì họ đang làm và chịu đựng, và nhận ra rằng chúng tôi sẵn sàng chịu hiểm nguy để kể về những câu chuyện của họ. Khoảng 75 nhà báo, phóng viên ảnh và các nhà quay phim đã thiệt mạng trong chiến tranh ở Đông Dương từ năm 1962 đến năm 1975.
Đến vùng Vịnh
Chỉ một số ít phóng viên, trong đó có tác giả bài báo này, đưa tin về cả hai cuộc chiến, vì thế họ có thể nhận thấy những điểm tương đồng và những điều khác biệt.
Đến thời điểm cuộc chiến vùng Vịnh, chiến tranh và cả cách đưa tin về chiến tranh đã thay đổi đáng kể. Cùng với hàng loạt vũ khí và khái niệm mới là phong cách báo chí mới. Rất nhiều phóng viên đổ về Ảrập Xêút và nhiều người trong số đó sử dụng hình thức liên lạc hiện đại qua máy tính và vệ tinh. Những hình thức đưa và truyền tin đó khiến việc kiểm soát chiến trường trở nên khó khăn hơn và những nguyên tắc an toàn tác chiến cũ không còn phù hợp nữa.
Các quan chức quân sự tìm cách giải quyết những vấn đề đó và đã thất bại. Buộc phải tuân thủ những nguyên tắc cứng nhắc làm hạn chế tính linh động và cản trở việc truyền tin, các phóng viên đã va chạm với các quan chức quân sự và cáo buộc họ kiểm duyệt báo chí. Những thông tin bị giấu ỉm đi vì lý do an ninh gây thêm căng thẳng. Có lẽ thất bại lớn nhất của báo chí trong việc đưa tin về chiến tranh Vùng Vịnh là lượng thông tin ít ỏi đáng kinh ngạc về những cảnh phim được phát trên truyền hình và những bức ảnh. Trong khi số binh sĩ liên quân tham chiến là rất lớn, có rất ít thông tin để chứng tỏ rằng cuộc chiến đã thực sự bắt đầu.
Cuối cùng, các sĩ quan nói rằng có thể họ đã xoá bỏ việc hạn chế báo chí nếu cuộc giao tranh tiếp diễn. Nhưng có lẽ do cuộc chiến đó diễn ra quá chóng vánh nên khiến cho cả báo chí và giới quân sự không thoả mãn và phân vân rằng liệu một chính sách thoả đáng hơn có được áp dụng cho các cuộc chiến trong tương lai hay không.
Ngọc Sơn (theo CNN)
Close [X]
1gom
1gom