Nguyễn Đình Đăng –
“Đối với tôi điều lý thú nhất trong nghệ thuật là nhân cách của nghệ sĩ; và nếu nhân cách đó là xuất chúng, tôi sẵn lòng tha thứ cả ngàn lỗi lầm”.
W. Somerset Maugham (1874 – 1965)
![]() |
| Giấc mơ của nghệ sĩ (Chân dung nhà văn Nguyễn Huy Thiệp)Nguyễn Đình Đăng, sơn dầu trên vải, 97 x 130 cm, 1990 |
Như nhiều người Việt Nam sinh ra cuối những năm 50 của thế kỷ trước, tôi có một tuổi thơ trôi qua trong chiến tranh chống Mỹ, có nghĩa là phải đi sơ tán, rất thiếu thốn về vật chất, ăn cơm độn 70% bột mì, da trâu thay thịt, và lá khoai lang thay rau xanh. Thời đó dĩ nhiên là nông thôn và cả thành thị đều không có điện nói chi đến tivi, máy vi tính, trò chơi điện tử và Internet như bây giờ. Thời đó một trong những thú vui của tôi là đọc sách. Tôi không thể nhớ hết các sách tôi đã đọc. Tuy nhiên những cuốn sách gây ấn tượng mạnh nhất trong thời thơ ấu của tôi là: Truyện cổ Grimm của anh em Grimm (bản dịch của Hữu Ngọc), Những người khốn khổ của Victor Hugo (bản dịch của nhóm Lê Quý Đôn) và Tam quốc diễn nghĩa của La Quán Trung (bản dịch của Phan Kế Bính, Bùi Kỷ hiệu đính). Tất cả đều là văn học nước ngoài. Tiếp theo đó là một loạt tác phẩm khác, cũng của văn học nước ngoài, như Không gia đình của Hector Malot, Miếng da lừa của Honoré de Balzac, kịch của Molière, kịch của Shakespeare, Iliad và Odyssey của Homer, kịch của Eschilles, Don Quichotte của Cervantes… Sau các tác phẩm văn chương vĩ đại đó của nhân loại, văn học Việt Nam của tất cả mọi thời kỳ (trừ một số ít tác phẩm thi ca) thực sự không gây cho tôi một hứng thú gì đặc biệt.
… cho đến năm 1989.
Lúc đó công cuộc “đổi mới” ở Việt Nam đã bắt đầu được vài năm. Tôi đang nghiên cứu vật lý tại Dubna (Nga). Một buổi tối, anh bạn Việt Nam ở phòng bên chạy sang cho tôi mượn mấy tờ báo và tạp chí trong nước gửi sang. Tôi không nhớ là sau bao nhiêu năm, tôi mới được đọc một nhà văn Việt Nam mà lại cảm thấy thực sự bị lôi cuốn đến như vậy. Nhà văn đó là Nguyễn Huy Thiệp.

Tôi cũng là một họa sĩ. Mà đã là họa sĩ thì hay vẽ chân dung tất cả những người mà mình yêu và thích, bắt đầu từ bố, mẹ, anh, chị, vợ, con. Sau đó đến bạn bè, người quen. Cuối cùng là những người có tài mà mình ngưỡng mộ. Vì thế, khi trở về Hà Nội vào tháng Một năm 1990, người đầu tiên tôi tìm gặp là Nguyễn Huy Thiệp… để vẽ chân dung. Lúc này tôi đã đọc khá nhiều truyện ngắn của anh như Tướng về hưu, Phẩm tiết, Vàng lửa, tập Những ngọn gió Hua Tát,… – những tác phẩm ngày hôm nay không ai không nhắc đến khi nói về văn học Việt Nam đương đại.
*
Tôi không biết anh ở đâu nên chạy tìm anh khắp thành phố. Cuối cùng một ông già trông xe đạp trước cửa một nhà phát hành sách giáo khoa của Bộ Giáo dục nói với tôi:
– Nguyễn Huy Thiệp chứ gì? Ở Nhà xuất bản Giáo dục 19 Lê Thánh Tông kia! Đâu có ở đây.
Trong một căn phòng chật hẹp, không đủ ánh sáng, cửa sổ có song trông như cửa nhà giam, một nhóm độ 4-5 người, trong đó có hai đàn ông, đang cặm cụi làm gì đó như viết hay vẽ. Một lát sau thì tôi biết được họ đang can lại các hình vẽ cũ để in vào các bản sách giáo khoa tái bản. Tôi hỏi anh Thiệp. Một người đàn ông mặt đen, trông như nông dân, ngửng lên. Tôi tự giới thiệu. Té ra anh cũng đã nghe nói về tranh của tôi. Như vậy rất tiện. Tôi đề nghị vẽ chân dung anh. Người đàn ông ngồi cạnh nãy giờ im lặng, đột nhiên nói chen vào:
– Vẽ à? Vẽ ở đây có được không?
Hồi đó có người nói với tôi là anh Thiệp bị “người ta” kèm, giám sát. Mới đầu tôi không tin. Một thời gian sau tôi hiểu ra rằng không phải tự dưng mà có những lời đồn đại như vậy. Làm như không để ý đến câu nói đó, anh Thiệp mời tôi xuống quán cà phê bên kia đường. Người Việt Nam luôn giải quyết các công việc quan trọng ở quán nước. Lần gặp gỡ đầu tiên đó tôi không mang theo giấy bút vẽ. Chúng tôi chỉ nói chuyện. Tôi không nhớ chi tiết chúng tôi nói những gì, trừ một câu rất ấn tượng của anh Thiệp:
– Tôi như người xẻ thịt con lợn, chỉ moi lấy tim, còn tất cả thịt, xương, lòng thì vứt đi.
Tôi hiểu cách nói và niềm tự tin quá lộ liễu của anh Thiệp đã khiến nhiều người cảm thấy bị xúc phạm. Tài năng của một người thường kéo theo sự ghen ghét của nhiều người khác. Người khởi xướng trường phái hiện thực trong văn học Anh nhà văn Henry Fielding (1707-1754) từng nói đại ý: “Một số người bị người khác chống lại vì có cái thứ mà người khác không có”. (Nguyên văn: Some folks rail against other folks, because other folks have what some folks would be glad of.). Cụ Nguyễn Du (1765-1820), sinh sau Fielding hơn nửa thế kỷ, “khả úy” hơn, đã tổng kết:
Có tài mà cậy chi tài, Chữ Tài liền với chữ Tai một vần.
Tôi mời anh Thiệp đến nhà tôi để vẽ các ký họa chuẩn bị bằng bút chì. Tôi vẽ chi tiết chân dung anh, đôi tay, hai bàn chân, toàn bộ dáng ngồi trong ghế bành. Tôi đến cả quán cà phê nọ để vẽ cái ghế mây thấp lùn anh từng ngồi [ 1]. Phần còn lại của bố cục bức tranh sơn dầu (kích thước 97×130 cm) là tưởng tượng của tôi. Phía sau anh, tôi vẽ các nhân vật từ các truyện ngắn của anh, trong đó có vua Quang Trung đầu lộn xuống, vua Gia Long mặt là hình người đàn bà khỏa thân dán ốp lên… Ở góc trên bên trái bức tranh, tôi vẽ chân dung các vĩ nhân văn chương và văn hóa thế kỷ 19 và 20: Victor Hugo, Sigmund Freud, Anatole France, Guy de Maupassant, Alexander Soljenitsin, Fedor Dostoevsky và Boris Pasternak – những người mà tôi thấy có sự tương đồng trong tác phẩm của họ và tác phẩm của anh Thiệp. Các chân dung này hiện ra như những đám mây. Ở phía bên phải tôi vẽ cảnh đoàn người cưỡi lạc đà đi trên sa mạc với mấy con chó chạy đằng sau: “Chó cứ sủa, đoàn người cứ đi” (Les chiens aboient, la caravane passe). Đàn lạc đà biến dần thành đàn chim bay lên trời. Anh Thiệp ngồi trên ghế salon nhà tôi. Cái ghế bay lơ lửng trên một bậc tam cấp làm bằng đá hoa cương. Phải chăng đó là bậc tam cấp lên đỉnh Parnasse [ 2]? Sóng biển đập vào một phía bậc tam cấp. Bên kia là đại dương mênh mông đưa những gợn sóng dài và hùng vĩ đến một bức tường đầy những lỗ đạn đang rỉ máu. Dưới chân anh Thiệp ngồi, tôi vẽ ếch nhái, rắn rết, ốc sên, chuột cống có chân giống như chân người.
Hồi đó, mỗi khi tôi vẽ xong một bức tranh to, tôi thường tổ chức một buổi gặp mặt nhỏ tại phòng khách nhà tôi, mời một số họa sĩ tới cùng uống rượu và ngắm tranh. Trong số họ có cả họa sĩ Nguyễn Sáng và thi sĩ Trần Dần. Ba vị khách thường hạ cố đến chơi là Bùi Xuân Phái, Mai Văn Hiến, và Lê Huy Tiếp. Sau khi ông Phái qua đời (1988), ông Hiến và anh Tiếp vẫn thỉnh thoảng tới nhà tôi.
Lần ấy, sau khi hoàn thành Chân dung nhà văn Nguyễn Huy Thiệp, tôi cũng tổ chức một buổi “vernissage” [ 3] như vậy. Các vị khách đã đến đầy đủ mà anh Thiệp vẫn không thấy tăm hơi. Vào năm 1990 điện thoại (chứ chưa nói điện thoại di động) chưa phổ biến như bây giờ. Tôi chắc có chuyện gì đó đã xảy ra với anh Thiệp. Mãi tới năm giờ chiều, sau khi khách khứa đã về từ lâu, Nguyễn Huy Thiệp mới xuất hiện. Lý do là anh gặp rắc rối với công an.
Vào những năm đầu 90, Thiệp là nhà văn thuộc loại “có vấn đề”. Các truyện ngắn của anh gây nhiều cuộc tranh cãi nóng bỏng trên văn đàn, báo chí cũng như trong dân chúng. Để trưng bày tại triển lãm cá nhân năm 1991 của tôi tại Hà Nội, tôi phải đổi tên bức tranh từ Chân dung nhà văn Nguyễn Huy Thiệp thành Giấc mơ của nghệ sĩ. Nhiều khách đến xem triển lãm của tôi tại 16 Ngô Quyền đã nhận ngay ra Nguyễn Huy Thiệp trong Giấc mơ của nghệ sĩ. Phu nhân đại sứ Anh quốc lúc đó ở Hà Nội rất thích bức tranh này và ngỏ ý muốn mua. Anh Thiệp cũng có vẻ thích bức tranh. Anh nói với tôi: “Nếu tôi có tiền tôi sẽ mua bức tranh này”.
Năm 1991, tôi nhận lời mời của Đại học Tổng hợp kỹ thuật Munich và viện Vật lý hạt nhân Quốc gia Italy sang làm việc tại Đức rồi Italy. Tôi lên đường mà không kịp chia tay với anh.
Công việc nghiên cứu khoa học khiến tôi ở ngoại quốc nhiều hơn ở trong nước. Năm 1994 tôi sang Nhật và làm việc tại Viện nghiên cứu vật lý hóa học Nhật Bản. Tháng 10 năm 2001 triển lãm cá nhân đầu tiên của tôi tại Nhật Bản đã khai mạc tại phòng triển lãm Sun Azalea thành phố Wako tỉnh Saitama (cạnh Tokyo). Chân dung nhà văn Nguyễn Huy Thiệp là bức tranh lớn nhất tại triển lãm, treo ở sảnh giữa. Dưới chân dung anh, tôi đặt một bình hoa to [ 4].
Bẵng đi một thời gian tôi không được đọc các tác phẩm mới của anh Thiệp. Vẫn qua các “tin sương đồn đại” tôi nghe nói anh Thiệp vẫn “bình thường”, nhưng “hầu như không viết văn”, “bỏ đi tu”, rồi sau đó lại nghe nói anh “mở quán ăn”… Mãi cho đến cách đây mấy năm tôi mới lại thấy truyện của anh xuất hiện: Chuyện ông Móng với câu kết bất hủ: “Nghề hót phân trên đời là nhất!”, rồi Chuyện tình kể trong đêm mưa, v.v. Truyện ngắn nào của anh tôi cũng thấy có những điểm rất quý giá. Chúng như những viên kim cương: nhỏ nhưng sáng chói, với muôn vàn tia ngũ sắc tỏa ra khi ánh sáng chiếu vào. Kim cương giả không làm sao sáng lấp lánh được như những viên kim cương thật vì giả thì bao giờ cũng là… giả. Kể cả tập tiểu thuyết đầu tay của anh Tuổi hai mươi yêu dấu tôi cũng đọc liền một đêm từ đầu đến cuối. Sau đó là “vụ” Trò chuyện với hoa thủy tiên và những nhầm lẫn của nhà văn với các bài viết đủ thượng vàng hạ cám khen chê “tóe lửa” trên báo giấy và báo điện tử. Anh Thiệp im lặng. Cho tới khi các bài “phê bình” đã chất đống, đánh đùng một cái trên trang web các tác phẩm mới chưa in của anh xuất hiện vở kịch Mổ nhà văn. Tôi đọc mà không nhịn được cười, thầm phục cái tài trả lời rất cao thủ của anh. Văn của anh Thiệp luôn là như thế, nó không để cho người khác được “yên thân”. Một nhà văn “lão làng” của Việt Nam đã có lần phải thốt lên: “Sau Nguyễn Huy Thiệp, ai cũng cảm thấy mình không thể viết như trước được nữa”.
Tôi rất muốn gặp lại anh, sau bao nhiêu năm trời xa cách…
![]() |
| Tay Nguyễn Huy Thiệp (xem chi tiết)Nguyễn Đình Đăng, phác thảo chì trên giấy màu, 1990. |
Tháng 10 vừa qua, trong dịp về nước dự hội thảo vật lý, tôi đã gặp lại Nguyễn Huy Thiệp. Chúng tôi hẹn nhau tại một tiệm ăn. Hà Nội của thời kinh tế thị trường có nhiều “độc chiêu”. Tới khi cậu phục vụ giới thiệu “Nhà hàng chúng cháu có rau khoai lang xào”, thì anh Thiệp kêu lên:
– Cả đời tao đã ăn rau khoai lang rồi mà mày còn định cho tao ăn nữa hay sao?
Cậu phục vụ còn rất trẻ, gọi anh Thiệp bằng bác. Có lẽ cậu không phải trải qua cái thời kỳ khốn khó khi chúng tôi phải ăn lá khoai lang thay rau. Bây giờ lá khoai lang lại hóa ra là “đặc sản”. Nhưng với tôi lá khoai lang mãi mãi vẫn chỉ là lá khoai lang mà thôi. Chúng tôi lại nói chuyện say sưa. Tôi có cảm giác như mười mấy năm xa cách đã bay biến đâu mất. Anh Thiệp tặng tôi tuyển tập truyện ngắn mới in của anh. Sách in đẹp, bìa cứng có hình minh họa của cố họa sĩ Bửu Chỉ, gắn dây vàng để đánh dấu. Ở trang đầu anh Thiệp ghi: “Thân mến tặng Nguyễn Đình Đăng”. Bên dưới là chữ ký và dấu triện đỏ của anh như ở bên Nhật vậy…
*
Bạn đã đọc Hạc vừa bay vừa kêu thảng thốt của Nguyễn Huy Thiệp chưa? Có thể bạn đã đọc rồi nhưng chắc có ít bạn đọc nó trong khi đi trên tàu điện ngầm ở Tokyo như tôi. Cảm giác thật lạ. Khi tàu dừng ở ga cũng là lúc tôi vừa đọc xong. Tôi đi trong nhà ga mà như đi trong giấc mơ, nhìn ra phía trước có vầng sáng của lối đi lên. Thế nhưng thay vào chỗ thang cuốn đang chạy tôi lại thấy một bầu trời hiện ra với cánh đồng lúa bên dưới. Bầu trời không yên tĩnh mà cuồn cuộn mây. Những đám mây đôi chỗ thủng ra để lộ da trời màu xanh cobalt. Trên nền xanh cobalt đó xuất hiện một cánh chim trắng đơn độc, vừa bay vừa cất tiếng kêu. Mặc tiếng gió thổi, tiếng lao xao của đồng lúa, tiếng vịt trời, le le, mòng két, cùng các tạp âm khác, tiếng chim nghe vẫn rất rõ, bởi nó trong sáng, dội xuống từ trên cao, ở một cung bậc hoàn toàn khác.
Tokyo, 2/12/2004
—








