Những trường hợp khi vừa bị u xơ tử cung lại vừa có thai, tuy đại đa số đều vượt qua dễ dàng thời kỳ mang thai và sinh đẻ nhưng có một số trường hợp hay xảy ra những chuyện bất thường nên hết sức chú ý. Chẳng hạn như trong thời gian mang thai, do u xơ ngăn cản trứng thụ thai làm tổ và phát triển nên dễ dẫn đến sảy thai;u xơ tử cung tăng trưởng khá nhanh thì hay biến chứng, hay bị lệch ngôi thai vào những tháng cuối.
Trong khi đẻ, do u xơ tử cung vẫn còn trong tử cung, thường có thể gây ảnh hưởng đến sự co bóp của tử cung; do u xơ mọc ở đoạn cuối tử cung gây cản trở cho thai nhi chui ra, tạo thành ca đẻ khó và chảy máu sau khi đẻ. Cho nên những phụ nữ bị u xơ tử cung, sau khi có thai phải kịp thời đến bệnh viện khám và khám theo thời gian hẹ trước của bác sĩ, định kỳ chuẩn đoán bệnh tật. Nếu u xơ mọc ở cuối đoạn trên của tử cung, nhìn chung không ảnh hưởng gì đến quá trình sinh con.
Nếu trong thời kỳ mang thai không thấy có biểu hiện khác biệt gì thì có thể không cần xử lý gì, đợi sau khi đẻ xong khám xét lại một lần nữa, rồi quyết định biện pháp chữa trị. Nếu u xơ chuyển sang biến chứng, gây đau bụng cấp hoặc khối u mọc thấp ở phía dưới, cản trở thai nhi chui ra thì dùng phẫu thuật cắt bỏ khối u hoặc tiến hành phẫu sản.
143. Nếu khối u ở buồng trứng, sau khi có thai thì làm thế nào?
Người phụ nữ có khối u ở buồng trứng lại có thai, không những phải chịu thêm nguy hiểm do khối u xoắn lại và bị vỡ, mà còn dễ bị sẩy thai hay khó đẻ. Cho nên sau khi phát hiện thấy khối u ở buồng trứng mà lại mang thai, phải gấp rút đến bệnh viện khám xem tính chất kích thước, vị trí và cả chứng trạng của khối u đó là gì, nhằm xác định biện pháp điểu trị. Nếu đã khám nghiệm xác định được khối u ở buồng trứng, thường khi thai đã được 4-6 tháng là thời kỳ tương đối an toàn cho thai thì làm phẫu thuật cắt bỏ khối u. Bởi vì nếu cắt quá sớm, dễ dẫn đến sẩy thai. Nếu mang thai đến nhứng tháng cuối mới phát hiện ra khối u thì phải tùy theo vị trí và tính chất của khối u mà xác định biện pháp chữa trị. Nếu thuộc khối u lành tính, vị trí cao mà không ảnh hưởng gì đến quá trình sinh đẻ, có thể đợi đẻ xong mới xử lý. Nếu khối u mọc trong lòng hố chậu, cản trở việc sinh đẻ thì phải tiến hành phẫu sản khi có thời cơ thích hợp, đồng thời cắt bỏ khối u, để tránh khối u bị chèn vỡ khi đẻ. Như vậy bắn một phát có thể trúng hai đích. Nếu là khối u ác tính nên sớm phát hiện, mổ kịp thời, không thể để lâu. Khi khối u xoắn lại hoặc vỡ ra, bất kể khối u đó thuộc loại nào cũng phải mổ ngay.
144. Việc mang thai có nguy hiểm gì đối với người lưng gù? Cần chú ý những gì sau khi có thai?
Những phụ nữ lưng gù là do khoang ngực bị tật, không những làm cho diện tích hô hấp bị thu nhỏ lại mà còn vì thế làm cho phổi không nở, phổi bị xơ hóa khiến các mạch máu ở phổi bị ngăn cản nhiều. Tình trạng này, tuy gây ra nhiều điều bất tiện cho người bị gù, nhưng vẫn có thể tham gia các hoạt động bình thường. Nếu mang thai, hoạt động của lồng ngực sẽ bị hạn chế. Cùng với sự tăng lên của thời gian mang thai, tử cung to dần, cơ hoành cách vị đội lên, khiến diện tích hô hấp có hiệu quả trong phổi bị thu hẹp lại, gây nên tình trạng thiếu ôxy và ứ đọng CO2, tạo nên vẻ tím tái và thở khó khăn . Nếu mắc bệnh viêm đường hô hấp trên thì dễ làm cho hơi thở bị suy kiệt và dẫn đến bệnh tim có nguồn gốc từ phổi, đe doạ rất lớn đến tính mệnh. Vì thế, sau khi có thai, những phụ nữ bị gù lưng nhất định phải tích cực đề phòng và chữa bệnh viêm đường hô hấp và phải thường xuyên đến gặp bác sĩ kiểm tra, tìm hiểu tình hình tim phổi ra sao, để quyết định có tiếp tục mang thai được nữa hay không. Đồng thời phải ngăn ngừa tình trạng để tim bị suy kiệt, chú ý nghỉ ngơi đầy đủ, tránh mệt mỏi, bổ sung chất sắt và tăng dinh dưỡng, chống thiếu máu. Chú ý giữ ấm, chống viêm phổi. Nếu thấy có các triệu chứng của giai đoạn đầu của bệnh suy tim như tần số tim đập nhanh lên quá lâu, tần số tim đập trên mức 110 lần/phút, ho lâu và khó thở, chữa mãi không khỏi v.v…nên uống thuốc trợ tim theo chỉ dẫn của bác sĩ. Đến ngày sắp ở cữ nên vào bệnh viện để mổ đẻ, nhằm giảm nhẹ gánh nặng cho tim phổi.
(còn tiếp)






