Phát hiện như Lại Nguyên Ân

Hoàng Xuân Tuyền – 
Hẳn ông Lại Nguyên Ân phải tự cho rằng phát hiện của mình về “ca” Hoài Thanh “đạo văn” (những chữ in nghiêng trong ngoặc kép trong bài này là chữ dùng của ông Ân) là hết mức to tát, cực kỳ đắt giá v.v. nên mới có chuyện bài viết với tựa đề “Hoài Thanh cũng “đạo văn”?” của ông trên Thế Giới Mới số 602, ra ngày 13/9/2004 còn chưa ráo mực in thì ngày 21 cùng tháng ông đã tức tốc sửa lại tít bài, thêm bớt chút xíu phần đuôi, thân chinh mang đến tòa soạn Văn nghệ Trẻ, trao tận tay người biên tập, lên trang để mà in lại. Những lý do khác kiểu như “thâm canh” một bài báo để “tăng nhuận bút” là những lý do chỉ buộc phải tính tới khi tác giả còn là học trò báo chí chẳng hạn, đâu có thể là Lại Nguyên Ân với mấy chục năm đọc sách, làm sách, viết báo mà bạn văn chương đã biết tên?! (Những người làm Văn nghệ Trẻ không lẩn tránh trách nhiệm về việc đã để cho bài viết này in trên báo mình, mỗi anh chị em đều tự thấy thích đáng phải gánh chịu trách nhiệm chung. Dù vậy, với tư cách là một thành viên trong tòa soạn, người viết bài này xin có đôi lời vắn tắt rằng tít bài “Hoài Thanh cũng “đạo văn”?” đã được ông Lại Nguyên Ân đổi thành “Bản quyền thuộc về ai?” để mang tới Văn nghệ Trẻ vào thời điểm số báo 39 đã sắp sửa đưa in. Một cái tít hiền lành về một vấn đề tử tế và thời sự như vậy do chính ông tác giả quen tên tự tay mang tới là nguồn cớ cho người biên tập và xếp trang – lắp ngay bài của ông Ân vào chỗ trống. Vậy nên mới thành chuyện. Thêm vài lời như vậy, mong rằng đền đáp được phần nào thắc mắc của không ít độc giả về việc vì sao Văn nghệ Trẻ lại cho in lại bài viết đã đăng trên Thế Giới Mới này của Lại Nguyên Ân. Hẳn đã tự cho phát hiện của mình là to tát, là đắt giá, là đúng đắn mọi nhẽ… nên ông Lại Nguyên Ân mới đanh thép đặt vấn đề “Ai ăn cắp của ai?” ngay đầu bài viết trên Thế Giới Mới và Văn nghệ Trẻ trước khi “nêu” hai đoạn văn của Hoài Thanh và Lê Tràng Kiều làm “vật chứng” cho việc tác giả Thi nhân Việt Nam “đạo văn”. Xin dẫn lại hai đoạn văn “vật chứng” này để “bạn đọc nhận diện”:
“…DẪN CHỨNG 1:
“Tôi quyết rằng trong lịch sử thi ca Việt Nam chưa bao giờ có một thời đại phong phú như thời đại này. Chưa bao giờ người ta thấy xuất hiện cùng một lần một hồn thơ rộng mở như Thế Lữ, mơ màng như Lưu Trọng Lư, hùng tráng như Huy Thông, trong sáng như Nguyễn Nhược Pháp, ảo não như Huy Cận, quê mùa như Nguyễn Bính, kỳ dị như Chế Lan Viên, và thiết tha rạo rực băn khoăn như Xuân Diệu.”
Hoài Thanh, Hoài Chân: Thi nhân Việt Nam 1932-1941, Nxb. Văn Học, Hà Nội, 1988, tr.33-34…
DẪN CHỨNG 2:
“Ba năm qua… Với thi ca, văn học ta đã bước được một bước dài. Một sự may mắn không ngờ!Chỉ trong vòng ba năm mà lần lượt đua nhau xuất hiện ra không biết bao nhiêu tác phẩm có giá trị mà trong cái dĩ vãng rất bằng phẳng mấy ngàn năm chỉ lơ thơ một vài cái. Từ bao giờ đến bây giờ, người ta đã có mấy lần một tâm hồn  – hùng tráng như Huy Thông,- dồi dào như Thế Lữ,- huyền diệu như Thái Can,- âm thầm như Đông Hồ,- mơ màng như Leiba,- buồn não như Nguyễn Vĩ,và một tâm hồn đầy âm nhạc, đầy mộng ảnh như Lưu Trọng Lư??? (xin ông Lại Nguyên Ân lưu ý giùm cho mấy dấu chấm hỏi này – H.X.T.)Ba năm qua… Mà như một thế kỷ đã qua!”
Lê Tràng Kiều: Thơ mới, Hà Nội báo, số 14 (8 april 1936), tr. 2…”
Vẻn vẹn chỉ có vậy! Chỉ có vậy mà ông Lại Nguyên Ân phải nhọc công đôn đáo “phát hiện”, in bài dồn dập trong Nam ngoài Bắc, lớn tiếng cao giọng căn vặn “Ai ăn cắp của ai?”!
Nào có ai ăn cắp của ai đâu?!
Bởi vì, chẳng hạn: đoạn văn được ông Lại Nguyên Ân trích “nêu” có đến mấy dấu chấm hỏi đứng đó chứng thực cho cái sự hãy còn đôi chút phân vân của Lê Tràng Kiều: “đã có mấy lần một tâm hồn hùng tráng như Huy Thông, dồi dào như Thế Lữ, huyền diệu như Thái Can, âm thầm như Đông Hồ, mơ màng như Leiba, buồn não như Nguyễn Vĩ, và một tâm hồn đầy âm nhạc, đầy mộng ảnh như Lưu Trọng Lư???”. Nhận định thì là nhận định rồi, nhưng vẫn còn chút gì chưa hoàn toàn chắc chắn, chưa hoàn toàn khẳng định. Những dấu chấm hỏi của một chút phân vân, của một lời mời gọi cùng giải đáp?! Và rồi lời giải đáp đã được người bạn thân thiết thời đó của Lê Tràng Kiều là Hoài Thanh đưa ra trong chính đoạn văn mà ông Lại Nguyên Ân “nêu” ở Thi nhân Việt Nam: “Tôi quyết rằng trong lịch sử thi ca Việt Nam chưa bao giờ có một thời đại phong phú như thời đại này. Chưa bao giờ người ta thấy xuất hiện cùng một lần một hồn thơ rộng mở như Thế Lữ, mơ màng như Lưu Trọng Lư, hùng tráng như Huy Thông, trong sáng như Nguyễn Nhược Pháp, ảo não như Huy Cận, quê mùa như Nguyễn Bính, kỳ dị như Chế Lan Viên, và thiết tha rạo rực băn khoăn như Xuân Diệu”. Một người hỏi, một người trả lời “Tôi quyết rằng…”. Chuyện này cũng giống như ai đó hỏi: “- Ông Lại Nguyên Ân tố cáo Hoài Thanh “đạo văn”?” và có người trả lời: “- Tôi quyết rằng việc ông Lại Nguyên Ân tố cáo Hoài Thanh “đạo văn” là sai”. Dùng lại một phần câu hỏi để làm câu trả lời cho chính câu hỏi đó, bình thường thế sao có thể đột nhiên biến thành kẻ cắp?!
Rồi còn bao nhiêu khác biệt giữa hai đoạn văn trên, ví dụ:
– Lê Tràng Kiều nhắc đến Thái Can, Đông Hồ, Leiba, Nguyễn Vĩ… còn Hoài Thanh lại nói về Nguyễn Nhược Pháp, Huy Cận, Nguyễn Bính, Chế Lan Viên, Xuân Diệu…;
– Khi cùng nhắc đến một tác giả, Lê Tràng Kiều nhận định “dồi dào như Thế Lữ”, “một tâm hồn âm nhạc, đầy mộng ảnh như Lưu Trọng Lư” còn Hoài Thanh lại khẳng định: “rộng mở như Thế Lữ, mơ màng như Lưu Trọng Lư”. Khác nhau nhiều lắm chứ?!;
– …
Với một sự tự tin chắc phải tới mức vô bờ bến vào “phát hiện” của chính mình ông Lại Nguyên Ân mới có thể viết những dòng kết luận “Bồ Tát” sau đây trên báo: “Hẳn có bạn nghe chuyện này nhưng vẫn chưa tin hẳn đâu. Thì hãy để các bạn ấy tự tìm cách thuyết phục chính mình!… Có lỗi thì phải bị bắt lỗi, phải bị phạt ở mức thích đáng, dù là ai. Nhưng chịu phạt rồi thì lại được sống và làm việc như thường”. (Xem Thế Giới Mới số 602, ra ngày 13/9/2004 và Văn nghệ Trẻ số 39, ra ngày 26/9/2004).
Ông Lại Nguyên Ân tin thế là bởi vì, như ông viết trong bài đăng trên Văn nghệ Trẻ: “Dù sao thì hiện tượng nêu trên cũng là cả một sự thật văn bản, sự thật văn học sử”, “Sự thật văn bản”, thì chẳng hạn như người viết bài này đã sơ bộ phân tích ở trên. Còn “sự thật văn học sử”? Sự thật văn học sử cho hay rằng:
– Đoạn văn nêu trên của Hoài Thanh mang một văn phong hoàn toàn thống nhất với văn phong của chính Hoài Thanh trong Thi nhân Việt Nam và trong cả các tác phẩm quan trọng khác đã làm nên một sự nghiệp văn chương có thể nói là kiệt xuất của nhà phê bình này;
– Mỗi khi mượn lời, dẫn ý người khác trong bài viết của mình Hoài Thanh luôn ghi chú rõ ràng, cụ thể nguồn gốc, xuất xứ. Đọc Thi nhân Việt Nam và các tác phẩm khác của Hoài Thanh, người đọc có thể tự kiểm định được điều này;
– Hoài Thanh luôn tỏ lòng trân trọng đối với những ai có công cùng ông trao đổi, thảo luận khi ông sáng tác; tỏ lòng trân trọng với những ai có công thu thập tư liệu giúp ông viết sách. Ông tỏ lòng trân trọng bằng cách ghi nhận những người bạn ấy, những người anh em ấy với mình và đồng tác giả (Văn chương và hành động: Hoài Thanh – Lê Tràng Kiều – Lưu Trọng Lư, Thi nhân Việt Nam: Hoài Thanh – Hoài Trân).
– …
Tôi đã định nói tiếp chuyện nhà phê bình văn học Lại Nguyên Ân, tiếng thế sao viết bài thiếu tính khoa học đến thế, thiếu tính nhân văn đến thế: đọc đâu chỉ biết đó (mà thực tế chưa biết hết đó), chỉ thấy quyền sở hữu mà không thấy nghĩa vụ tôn trọng các giá trị con người. Tôi cũng định sẽ học cách nói dân gian, xưa và nay, để thử định danh cho lối phê bình văn học của ông Lại Nguyên Ân – “phát hiện như Lại Nguyên Ân”… Rồi cũng định viết thêm về chuyện: đoạn văn, câu thơ, tác phẩm sẽ thuộc về anh, mãi mãi thuộc về anh nếu chính nhờ anh nó mới sống được bền lâu trong lòng độc giả. Nếu anh cũng từng viết đúng y trang hoặc na ná, từa tựa như người, nhưng không ai nhớ tới anh, chỉ nhớ tới người, thì cũng đừng vì vậy mà lấy làm điều…
Và còn biết bao nhiêu điều định viết, nhưng ông Lại Nguyên Ân tôi lại thôi, không còn muốn viết thêm nữa ra đây. Bất đắc dĩ phải viết chừng ấy, như thế…
*
Nhớ năm xưa, Hoài Thanh mở đầu cho Thi nhân Việt Nam bằng Cung chiêu anh hồn Tản Đà: “…Có tiên sinh người ta sẽ thấy rõ chúng tôi không phải là những quái thai của thời đại, những đứa thất cước không có liên lạc gì với quá khứ của giống nòi…”.
Văn nghệ Trẻ, số 40, ngày 3/10/2004

Close [X]
1gom
1gom