400 câu hỏi nữ giới cần biết (phần 79)

Viêm thận, viêm bể thận là một trong những căn bệnh thường hay bị phát sinh trong thời kỳ mang thai. Theo điều tra, tỷ lệ phát bệnh viêm thận của những phụ nữ có thai chiếm từ 0,5-2%, sau khi mang thai được 4 tháng lại càng dễ phát bệnh. Có lúc bệnh chuyển sang cả hai bên thận nhưng phần lớn là hay bị một bên thận. Nếu phát bệnh thận ở một bên thì phần lớn là ở thận bên phải. Vi khuẩn gây bệnh hay gặp nhất là trực khuẩn đại tràng đường nhiễm bệnh là nhiễm lên trên. Phụ nữ có thai dễ bị bệnh viêm thận, nguyên nhân chủ yếu là do bị ảnh hưởng của các chất nội tiết phàm chủ yếu là nội tiết tố Progesteron, làm lớp cơ trơn của ống dẫn nuớc tiểu dão ra, khiến lòng ống rộng ra, sức bóp kém, vì thế đưa nước tiểu ra chậm, dẫn đến tình trạng ứ đọng nước tiểu trong bể thận và ống dẫn nước tiểu. Ngoài ra, việc tử cung to lên và đè nặng lên ống dẫn nước tiểu ở mép hố chậu cũng làm ảnh hưởng đến việc dẫn thông nước tiểu, điều này đã tạo cơ hội cho vi khuẩn tồn tại và phát triển. Sau khi có thai, lưu lượng tăng lên trên 30% so với lúc bình thường. Các chất dinh dưỡng như đường gluco, acid amin dễ lọc qua thận vào trong nước tiểu, khiến lượng chất dinh dưỡng chứa trong nước tiểu tăng lên, càng tạo cơ hội cho vi khuẩn phát triển. Hơn nữa do tầng cơ ở chỗ nối liền ống dẫn nước tiểu với bàng quang bị nhão ra, khi thải nước tiểu bàng quang phải co bóp, dung dịch nước tiểu có chứa vi khuẩn ở trong bàng quang cũng có thể chảy ngược lên ống dẫn nước tiểu. Do nước tiểu bị ứ đọng trong bể thận, lượng các chất dinh dưỡng chứa trong nước tiểu nhiều lên và dung dịch nước tiểu chứa vi khuẩn trong bàng quang thấm ngược lên, chính sự tổng hòa của ba nhân tố này đã cấu thành nguyên nhân có bản gây nên bệnh viêm bể thận, viêm thận ở các phụ nữ có thai.
Khi đã bị viêm thận nên nằm nghỉ ngơi, trong thời gian cấp tính nên nằm nghiêng sang cả hai bên để giảm bớt lực đè lên ống dẫn nước tiểu, giúp nước tiểu lưu thông. Nên uống nhiều nước, mỗi ngày không dưới khoảng 3 lít nước để tăng lượng nước tiểu, buộc phải đi tiểu nhiều để bài tiết các chất độc của vi khuẩn ra ngoài. Về việc điều trị bằng thuốc, có thể uống thuốc kháng sinh loại sulfa tổng hợp hoặc dùng thuốc Furacilinum loại 100 mg, mỗi ngày uống 3 lần, uóng liền 4 tuần là một chu trình chữa bệnh. Dùng sulfa tổng hợp và Furacilinum trong thời gian đầu mới mang thai khá an toàn nhưng thỉnh thoảng cũng gây nên bệnh thiếu máu. Trong hai tuần cuối cùng của tháng đẻ thì không được dùng sulfa vì có thể gây nên bệnh vàng da vàng mắt dạng hạt (tức bệnh viêm gan). Có thể chọn dùng các loại thuốc kháng sinh như Penicilin, Streptomycin…hơn nữa phải thử phản ứng thuốc rồi mới quyết định thử phản ứng thuốc. Bởi vì các loại thuốc kháng sinh dùng để chữa bệnh viêm niệu đạo này đều có thể gây ảnh hưởng tới thai nhi bị hoại tử gan, làm cho thai nhi phát sinh hội chứng màu xám. Do đó phải có sự hướng dẫn của bác sĩ khi dùng thuốc, việc tăng giảm chữa trị bằng các bài thuốc Đông y như bát chính tán, đạo xích tán, khá an toàn chắc chắn. Do rất khó chữa khỏi hẳn bệnh viêm thận nên phải khám lại ngay sau khi đẻ và sau sáu tuần nữa, để trị bệnh tận gốc.
146. Vì sao phụ nữ có thai dễ sinh ra thiếu máu? Phòng chữa như thế nào?
Cái gọi là bệnh thiếu máu là chỉ lượng hồng cầu trong máu và lượng huyết sắc tố trong mỗi tế bào hồng cầu bị giảm đi. Thông thường lượng huyết sắc tố trong máu của nam giới đã trưởng thành mà thấp hơn 12 gam/lít và lượng huyết sắc tố của nữ thấp hơn 110 gam/lít thì có thể chuẩn đoán là thiếu máu. Nhưng sau khi người phụ nữ mang thai, dung lượng máu tăng lên, trong đó lượng tăng của huyết tương sẽ nhiều hơn lượng tăng hồng cầu, làm dung dịch máu loãng ra, cho nên tiêu chuẩn chẩn đoán phụ nữ có thai bị thiếu máu cũng được giảm xuống khi huyết sắc tố trong máu những người phụ nữ mang bầu ở dưới mức 100 gam/lít, hồng cầu ở dưới 3,3 x 1012/lít thì mới chẩn đoán là thiếu máu. Bệnh thiếu máu mà người phụ nữ có bầu hay mắc nhất là bệnh thiếu chất sắt. Đó là bởi vì chất sắt là nguyên liệu quan trọng để tạo máu. Người phụ nữ có thai bắt đầu từ tháng thứ 4, một mặt do lượng máu trong người tăng lên yêu cầu khá nhiều sắt, một mặt khác do thai nhi phát triển, việc tạo máu cho thai nhi cũng cần đến sắt. Lượng sắt cần cho mỗi ngày từ 1-2 mg khi người phụ nữ chưa có thai và tăng trên 4 mg khi thai tròn 9 tháng, như vậy tăng gấp 3 lần so với lúc chưa có bầu.
Hơn nữa, lượng sắt có thể hấp thụ được qua 3 bữa ăn hàng ngày chỉ có 2 mg, vì thế không thể đáp ứng đủ nhu cầu về sắt, cộng thêm các phản ứng cũng cần nhu cầu về sắt, như phản ứng thai nghén biểu hiện buồn nôn, nôn mửa…Trong mấy tháng đầu mới mang thai, người mẹ nôn mửa trong thời gian tương đối dài, không những làm cho lượng sắt mà cơ thể hấp thụ được ít đi mà còn mất đi một số lượng lớn acid trong dạ dày nên không thể hấp thụ đầy đủ lượng sắt có trong thức ăn, vì thế khiến cho cơ thể không có đủ nguyên liệu tạo máu, gây ra bệnh thiếu máu do thiếu chất sắt. Theo điều tra, lượng sắt dự trữ trong cơ thể số đông phụ nữ có thai luôn bị thiếu giảm, khoảng 25% số phụ nữ có thai bị thiếu chất sắt. Ngoài ra cũng có trường hợp do bị thiếu vitamin B1 mà dẫn đến bệnh thiếu tế bào máu non còn bệnh thiếu máu do khó tái tạo được tế bào máu thì rất ít thấy.
Để phòng chữa bệnh thiếu máu, ngoài việc tăng cường chất dinh dưỡng, ăn nhiều thức ăn nhiều chất sắt như gan lợn,thịt nạc…trong thời kỳ mang thai, phải kịp thời chữa các bệnh đường ruột, dạ dày. Bắt đầu từ tháng thứ tư trở đi, mỗi ngày uống 1 viên sắt, có thể giúp cho cơ thể hấp thụ được 6 mg sắt, đáp ứng đủ nhu cầu mỗi ngày. Nếu bị bệnh thiếu máu, khi huyết sắc tố giảm xuống dưới mức 10%, có thể uống viên sunphat sắt thiếu hoặc viên carbonat sắt thiếu 0,3-0,6 g; mỗi ngày uống 3 lần hoặc 10 ml dung dịch xitric sắt amonium loại 10%, mỗi ngày uống 3 lần. Tiêm B12 loại 100 micoron, mỗi ngày tiêm một lần vào cơ bắp. Nếu hồng cầu tụt xuống dưới mức 1,5 x 1012 / lít huyết sắc tố dưới mức 60 gam/ lít ma lại gần tới tháng đẻ, tốt nhất là nên tiếp máu nhiều lần, mỗi lần một ít. Nếu là bệnh thiếu tế bào hồng cầu non, có thể uống vitamin B1, mỗi lần uống 10 mg, ngày uống 3 lần. Để phòng chống bệnh thiếu tế bào hồng cầu non, có thể uống viamin B1 bắt đầu có thai từ tháng thứ tư trở đi, mỗi ngày uống 5 – 10 mg nên ăn những thức ăn có nhiều vitamin B1, chẳng hạn như rau tươi. Khi nấu thức ăn không được nấu quá kỹ, để vitamin B1 không bị phá mất quá nhiều. Đông y cho rằng thiếu máu chủ yếu là do huyết suy yếu, có thể uóng viên thập toàn đại bổ, viên nhân sâm, viên đương quy kiện tỳ…mỗi ngày 1 viên, ngày uống 3 lần.
(còn tiếp)

Close [X]
1gom
1gom